Lời Nhập Thể

Chủ Nhật 13 Thường NiênC

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

 

Chủ Nhật 13 Thường Niên, Năm C

 

Bài đọc: 1 Kgs 19:16b, 19-21; Gal 4:31b-5:1, 13-18; Lk 9:51-62.

1/ Bài đọc I: 16 Ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó làm ngôn sứ thay cho ngươi.

19 Ông Ê-li-a bỏ đó ra đi và gặp ông Ê-li-sa là con ông Sa-phát đang cày ruộng; trước mặt ông Ê-li-sa có mười hai cặp bò; chính ông thì đi theo cặp thứ mười hai. Ông Ê-li-a đi ngang qua, ném tấm áo choàng của mình lên người ông Ê-li-sa.

20 Ông này liền để bò lại, chạy theo ông Ê-li-a và nói: "Xin cho con về hôn cha mẹ để từ giã, rồi con sẽ đi theo ông." Ông Ê-li-a trả lời: "Cứ về đi! Thầy có làm gì anh đâu? "

21 Ông Ê-li-sa bỏ ông Ê-li-a mà về, bắt cặp bò giết làm lễ tế, lấy cày làm củi nấu thịt đãi người nhà. Rồi ông đứng dậy, đi theo ông Ê-li-a và phục vụ ông.

2/ Bài đọc II: 31 Ấy vậy, thưa anh em, chúng ta không phải là con của một người nô lệ, nhưng là con của người tự do.

1 Chính để chúng ta được tự do mà Đức Ki-tô đã giải thoát chúng ta. Vậy, anh em hãy đứng vững, đừng mang lấy ách nô lệ một lần nữa.

13 Quả thế, thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau.

14 Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. 15 Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy! 16 Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không còn thoả mãn đam mê của tính xác thịt nữa. 17 Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn.

18 Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa.

3/ Phúc Âm: 51 Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem.

52 Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Sa-ma-ri để chuẩn bị cho Người đến. 53 Nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giê-ru-sa-lem.

54 Thấy thế, hai môn đệ Người là ông Gia-cô-bê và ông Gio-an nói rằng: "Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không? "

55 Nhưng Đức Giê-su quay lại quở mắng các ông. 56 Rồi Thầy trò đi sang làng khác.

57 Đang khi Thầy trò đi đường thì có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo."

58 Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu."

59 Đức Giê-su nói với một người khác: "Anh hãy theo tôi! " Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã."

60 Đức Giê-su bảo: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa."

61 Một người khác nữa lại nói: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã."

62 Đức Giê-su bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa."


 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Ơn gọi và các điều kiện phải có

 Thiên Chúa cho mỗi người chúng ta có mặt trong cuộc đời là cho một lý do, vì Ngài không làm chuyện vô ích. Từ việc chọn Mẹ Maria để cưu mang Con Chúa, Gioan Tẩy Giả dọn đường cho Đức Kitô, đến cha sở họ Ars đưa tội nhân về cho Chúa, Mẹ Terêxa giúp đỡ các người nghèo, chị Terêxa nhỏ chuyên cầu nguyện cho Giáo Hội. Mỗi người chúng ta đều có một ơn gọi đặc biệt; ơn gọi đó là một phần quan trọng, dính liền với sự hiện hữu của chúng ta. Chúng ta phải xin Chúa Thánh Thần soi sáng tìm cho ra và hoàn thành sứ vụ Chúa trao phó.

Các bài đọc hôm nay muốn nêu lên những ơn gọi khác nhau của mỗi người và các điều kiện phải có để chu toàn ơn gọi ấy. Trong bài đọc I, ngôn sứ Elijah vâng lời Đức Chúa đi tìm Elishah và xức dầu tấn phong cho ông làm người thay thế mình để tiếp tục sứ vụ ngôn sứ. Khi Elishah nhận ra điều đó, ông xin phép về nhà giã từ cha mẹ, giết bò làm của lễ hy sinh, và đập tan cày bừa làm củi thiêu của lễ, rồi lên đường theo Elijah. Trong bài đọc II, thánh Phaolô khuyên các tín hữu Galat ý thức về ơn gọi làm Kitô hữu của họ. Khi chịu Phép Rửa, họ được gọi quên mình để sống cho tha nhân, họ được gọi để chết cho xác thịt và sống theo sự hướng dẫn của Thánh Thần. Trong Phúc Âm, qua những hoàn cảnh khác nhau, Đức Kitô liệt kê những điều kiện căn bản người môn đệ cần có. Họ được mời gọi để sống yêu thương, không quá lo lắng của cải vật chất, hay lo cho cha mẹ và gia đình.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Ơn gọi ngôn sứ: Elishah đứng dậy đi theo ông Elijah và phục vụ ông.

1.1/ Theo lời Đức Chúa, Elijah chọn Elishah làm người thay thế mình.

Trình thuật hôm nay tường thuật ơn gọi của Elishah. Theo lời của Đức Chúa, ngôn sứ Elijah chọn Elishah và huấn luyện ông thành người tiếp tục công việc ngôn sứ. Mười hai cặp bò chứng tỏ Elishah thuộc gia đình rất giàu có; vì gia đình giầu chỉ có một hay hai con. Khi ngôn sứ Elijah ném tấm áo choàng của mình lên người ông Elishah, ông Elishah hiểu ngay cử chỉ này. Nó tương đương với lễ nghi mặc áo và vào nhà tập của các dòng tu ngày nay. Lời yêu cầu của ông Elishah bình thường, vì ông Elishah phải từ giã cha mẹ. Câu trả lời của Elijah hơi khó hiểu; nhưng có lẽ muốn nói “Tôi không ngăn cản anh làm chuyện đó!”

1.2/ Thái độ dứt khoát của Elishah:

Hành động của Elishah là một hành động can đảm. Ông không tiếc nuối của cải vì ông biết đó là ơn lành Đức Chúa đã ban cho gia đình ông. Ông “bắt cặp bò giết làm lễ tế, lấy cày làm củi nấu thịt đãi người nhà.” Việc làm này chứng tỏ ông sẵn sàng chấm dứt nghề nghiệp của mình để lên đường theo ngôn sứ Elijah trong sứ vụ mới. Ông cũng chẳng hỏi Elijah về nơi ăn chốn ở, nhưng sẵn sàng theo vì ông tin tưởng Thiên Chúa sẽ quan phòng mọi sự cho những kẻ làm việc cho Ngài.

Chúng ta có thể học tấm gương anh hùng của Elishah. Một khi đã quyết định theo Chúa, chúng ta phải dứt khoát và mạnh dạn khước từ tất cả: cha mẹ, sự nghiệp, tài sản... Nếu không dứt khoát, chúng ta sẽ bị cám dỗ để trở về. Thái độ “chân trong, chân ngoài” rất khó để một người có thể trung thành theo Chúa đến cùng.

2/ Bài đọc II: Ơn gọi Kitô hữu: Hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau.

2.1/ Người Kitô hữu được kêu gọi làm con cái của tự do.

Thánh Phaolô viết: “Thưa anh em, chúng ta không phải là con của một người nô lệ, nhưng là con của người tự do. Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta. Vậy, anh em hãy đứng vững, đừng mang lấy ách nô lệ một lần nữa.”

Quan niệm của thánh Phaolô về tự do hơi khó hiểu vì nó liên quan đến Lề Luật. Trong Thư Rôma, người cắt nghĩa rõ ràng hơn: Đức Kitô đã đến để giải phóng chúng ta khỏi làm nô lệ cho Lề Luật, cho tội lỗi, và cho sự chết. Ba điều này liên quan chặt chẽ với nhau: Để một điều thành tội phải có luật cấm vi phạm, và nếu đã cố ý phạm tội, cái chết là điều không thể tránh khỏi.

Nhiều người định nghĩa sai: “Tự do là muốn làm gì thì làm,” rồi “lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt.” Khi đã làm nô lệ cho xác thịt, con người sẽ thấy ngay họ không còn tự do nữa.

Ví dụ, một người có tự do để chơi bài; nhưng khi đã nghiền chơi bài, họ không còn tự do để không chơi nữa. Họ biết lấy tiền của vợ dành nuôi con để dùng đánh bài là điều không phải; nhưng không thể đè nén lòng ham muốn để đừng làm chuyện ấy.

Tự do đích thực phải hướng con người tới sự thật, tới yêu thương, tới điều thiện hảo, và tới sự sống. Nếu một người nhân danh tự do để cắn xé nhau, người đó đã trở thành nô lệ cho tính xác thịt, cho tội lỗi và sự chết.

2.2/ Người Kitô hữu được kêu gọi để sống theo Thánh Thần.

Thánh Phaolô dạy: “Anh em là hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không còn thoả mãn đam mê của tính xác thịt nữa. Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn. Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa.”

Đây là những lời dạy phải được cắt nghĩa đúng. Nhiều người đã buộc tội thánh Phaolô xúi dân phá bỏ Lề Luật mà chính Ngài phải nhận là tốt lành vì Luật được Thiên Chúa trao ban qua Moses. Có phải khi người tín hữu được Rửa Tội là họ không cần phải vâng phục Lề Luật nữa không? Thánh Phaolô muốn chúng ta phân biệt hai lối sống:

(1) Sống theo tính xác thịt: là sống theo sự dối trá, làm điều xấu xa (tội lỗi), ghét bỏ nhau, và đem lại sự chết. Như đã nói ở trên tội và Lề Luật có liên quan mật thiết với nhau; nếu chúng ta sống theo Lề Luật là chúng ta sống theo tính xác thịt. Một ví dụ sẽ làm sáng tỏ vấn đề: Luật chỉ đòi con người làm những cái tối thiểu (ví dụ: xưng tội một năm ít là một lần). Nếu chỉ làm những cái tối thiểu, làm sao tiến bộ trên đường nhân đức và nên trọn lành được? Luật đòi bảo vệ công bằng; nhưng nếu chỉ làm theo công bằng đòi hỏi, làm sao có bác ái yêu thương?

(2) Sống theo Thánh Thần: là sống theo sự thật, làm điều tốt lành, yêu thương nhau, và đem lại sự sống. Khi sống bác ái yêu thương, chúng ta không chỉ làm những điều tối thiểu Luật đòi hỏi, nhưng còn vượt xa Luật. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu dạy các môn đệ con đường trở nên trọn lành trong Matthew 5: “Người xưa dạy (Lề Luật): Mắt đền mắt răng đền răng, còn Thầy dạy: Ai vả má bên phải, hãy đưa má bên trái nữa...”

Vì vậy, nếu một người sống theo Thần Khí, họ chu toàn tất cả Lề Luật, vì họ làm những điều tốt lành mà Lề Luật không đòi hỏi.

3/ Phúc Âm: Ơn gọi làm môn đệ: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa."

3.1/ Mục đích của việc theo Chúa:

Nếu một người muốn đi từ Galilee lên Jerusalem, họ có 3 cách: Cách thứ nhất, đi theo đường ven biển. Cách này dễ đi, nhưng phải leo núi rất dốc lên Jerusalem (3600+ ft). Cách thứ hai, băng qua các làng mạc của người Samaria. Cách này dễ đi; nhưng sẽ gặp sự chống cự của các người Samarians như Chúa Giêsu và các môn đệ gặp hôm nay. Cách thứ ba, đi dọc theo sông Jordan tới Jericho, rồi leo núi lên Jerusalem. Cách này tương đối dễ đi hơn cách thứ nhất, vì đường lên núi đỡ dốc thẳng hơn.

Hai môn đệ Giacôbê và Gioan chỉ dừng lại ở mức độ công bằng: Các ông ghét bỏ ai ghét bỏ các ông, và yêu thương ai yêu thương các ông. Nếu chỉ làm như thế, làm sao các ông có thể đem Tin Mừng cho tất cả mọi người? Đó là lý do Chúa Giêsu quở trách các ông, Ngài huấn luyện các môn đệ không phải để luận tội nhưng là để đem mọi người về cho Chúa.

3.2/ Thái độ phải có của người môn đệ Đức Kitô:

(1) Không quá lo lắng đến nhu cầu vật chất: Ngày xưa, giảng đạo từ thành này qua thành khác cách phổ thông và rẻ tiền nhất là đi bộ: đi đến đâu giảng đến đó. Người môn đệ không thể “đi đến đâu làm nhà đến đó” vì rất tốn thời gian mà tiền cũng chẳng có nhiều.

Chúa Giêsu không dấu những ai muốn trở thành môn đệ của Ngài: Họ phải chấp nhận lối sống của khách lữ hành nay đây mai đó. Họ phải chấp nhận lối sống đơn giản vì không thể mang nhiều đồ đạc theo mình trên đường. Người ít đồ đạc nhất là người có thể đi xa nhất. Họ phải tin tưởng Thiên Chúa sẽ nuôi những ai làm việc cho Ngài. Nếu tính toán chi li, họ sẽ không thể lên đường. Đó là lý do Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu."

(2) Không quá lo lắng đến cha mẹ: Trước tiên, chúng ta cần xác định Chúa Giêsu không dạy bất hiếu với cha mẹ vì nó đi ngược lại giới răn thứ tư của Thập Giới, và chính Ngài cũng không bất hiếu với cha mẹ Ngài. Ngài đã giao Đức Mẹ cho Thánh Gioan để có người chăm sóc khi Ngài chết đi. Điều Ngài muốn nhấn mạnh ở đây là sự khẩn cấp của việc loan báo Tin Mừng để làm cho triều đại của Thiên Chúa mau tới.

Chúng ta không thể hiểu câu này theo nghĩa đen, vì kẻ đã chết làm sao chôn kẻ mới chết? Điều Chúa muốn nhấn mạnh ở đây: Nếu việc chôn cất cha mẹ ngăn cản việc rao giảng Tin Mừng, đừng cố gắng để về. Thiên Chúa sẽ quan phòng cho có người chôn cất cha mẹ. Hơn nữa, đối với những người có niềm tin, báo hiếu cha mẹ có thể làm qua những việc quan trọng hơn như: dâng lễ, đọc kinh, và làm những việc lành phúc đức chỉ cho cha mẹ. Nếu chỉ vì sợ tai tiếng “bất hiếu” mà về dự đám tang, người ấy không xứng đáng làm môn đệ của Đức Kitô.

(3) Một khi đã theo Chúa, phải dứt khoát và theo đến cùng: Một lần nữa, Chúa không khuyến khích việc bất hiếu. Nếu gia đình ở gần, khoảng cách chỉ một thời gian ngắn có thể về tới như Elishah trong bài đọc I, Chúa sẽ không ngăn cản. Điều Chúa ngăn cản ở đây dành cho những người còn do dự và gia đình ở khoảng cách xa. Nếu về, người đó sẽ mất nhiều thời gian, và nhất là sẽ bị ngăn cản bởi gia đình. Một khi đã quyết định theo Chúa, một người phải dứt khoát như Elishah thì mới theo nổi: giết bò cày, phá cày làm củi. Nếu còn lưỡng lự giữ lại để nếu đổi ý về sẽ còn việc để làm, người ấy sẽ khó lòng vượt mọi khó khăn để theo Chúa đến cùng.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúa cho mỗi người chúng ta vào cuộc đời là cho một mục đích. Chúng ta phải tìm ra và thi hành thánh ý Chúa.

- Ơn gọi căn bản nhất là ơn gọi làm Kitô hữu. Ơn gọi này đòi chúng ta phải luôn sống theo sự hướng dẫn của Thánh Thần để thực sự có tự do.

- Nếu Chúa gọi chúng ta trở thành môn đệ làm việc cách riêng cho Ngài, chúng ta hãy khước từ tất cả: tài sản, gia đình, ý riêng để chỉ chú trọng đến việc làm cho con người nhận ra và tin tưởng nơi Thiên Chúa.

Lễ Thánh Phêrô và Phaolô

 

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

 

Lễ Thánh Phêrô và Phaolô

Bài đọc: Acts 12:1-11; 2 Tim 4:6-8, 17-18; Mt 16:13-19.

1/ Bài đọc I: 1 Thời kỳ ấy, vua Hê-rô-đê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh.

2 Nhà vua đã cho chém đầu ông Gia-cô-bê là anh ông Gio-an.

3 Thấy việc đó làm vừa lòng người Do-thái, nhà vua lại cho bắt cả ông Phê-rô nữa. Bấy giờ đang là tuần lễ Bánh Không Men. 4 Bắt được rồi, nhà vua truyền tống ngục và giao cho bốn tốp lính canh gác, mỗi tốp gồm bốn người, định sau lễ Vượt Qua sẽ điệu ông ra cho dân chúng.

5 Đang khi ông Phê-rô bị giam giữ như thế, thì Hội Thánh không ngừng dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện khẩn thiết cho ông.

6 Trong đêm trước ngày bị vua Hê-rô-đê đem ra xử, ông Phê-rô ngủ giữa hai người lính, và bị khoá vào hai cái xiềng. Trước cửa ngục lại có lính canh.

7 Bỗng thiên sứ của Chúa đứng bên cạnh ông, và ánh sáng chói rực cả phòng giam. Thiên sứ đập vào cạnh sườn ông Phê-rô, đánh thức ông và bảo: "Đứng dậy mau đi!" Xiềng xích liền tuột khỏi tay ông. 8 Thiên sứ nói tiếp: "Thắt lưng lại và xỏ dép vào!" Ông làm như vậy. Rồi thiên sứ lại bảo ông: "Khoác áo choàng vào và đi theo tôi!"

9 Ông liền theo ra, mà không biết việc thiên sứ làm đó có thật hay không, cứ tưởng là mình thấy một thị kiến. 10 Qua vọng canh thứ nhất, rồi vọng canh thứ hai, thiên sứ và ông tới trước cửa sắt thông ra phố. Cửa tự động mở ra trước mặt hai người. Ra đến ngoài, đi hết một đường phố, thì bỗng nhiên thiên sứ bỏ ông mà đi. 11 Lúc ấy ông Phê-rô mới hoàn hồn và nói: "Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hê-rô-đê, và khỏi mọi điều dân Do-thái mong muốn tôi phải chịu."

2/ Bài đọc II: 6 Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi.

7 Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin.

8 Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện. 17 Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng. 18 Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử. Chúa sẽ còn cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời. Chúc tụng Người vinh hiển đến muôn thuở muôn đời. A-men.

3/ Phúc Âm: 13 Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: "Người ta nói Con Người là ai?" 14 Các ông thưa: "Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ."

15 Đức Giê-su lại hỏi: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? "

16 Ông Si-môn Phê-rô thưa: "Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống."

17 Đức Giê-su nói với ông: "Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.

18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.

19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy." 


 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Trung thành làm chứng nhân cho Thiên Chúa tới cùng.

Hội Thánh được xây dựng vững chắc trên hai cột trụ; vì nếu chỉ xây trên một cột trụ, sẽ không đứng vững, giống như người chỉ có một chân. Phêrô rao giảng cho dân Do-thái, Phaolô rao giảng cho Dân Ngoại. Phêrô lo tổ chức và bảo vệ Hội Thánh, Phaolô lo phát triển và bành trướng Hội Thánh.

Các Bài Đọc hôm nay nói lên sự lựa chọn, bảo vệ, và ban ơn của Thiên Chúa dành cho hai ông. Trong Bài Đọc I, Sách CVTĐ tường thuật việc thiên sứ giải thoát Phêrô khỏi ngục tù. Trong Bài Đọc II, Phaolô xác quyết nhờ sức mạnh của Thiên Chúa, ông đã chiến đấu một trận chiến cao đẹp, đã chạy đến cùng đường, và đã trung thành giữ vững đức tin. Trong Phúc Âm, sau khi Phêrô được Thiên Chúa soi sáng để nhận ra và tuyên xưng đức tin vào Đức Kitô, Ngài đã chính thức thiết lập Giáo Hội trên Đá Tảng Phêrô; và Ngài hứa sẽ bảo vệ Giáo Hội khỏi mọi quyền lực của thế gian và ma quỉ.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Ông Phêrô được thiên sứ giải thoát khỏi ngục tù.

1.1/ Giáo Hội bị bách hại: Chúa Giêsu đã báo trước cho các tông-đồ: "Tôi tớ không trọng hơn chủ và môn đệ không hơn Thầy. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em." Sau khi Chúa Giêsu về trời, Giáo Hội tại Jerusalem bị bắt bớ dữ dội, bắt đầu bằng cuộc tử đạo tiên khởi của phó tế Stephanô. Trình thuật hôm nay liệt kê cuộc bắt bớ của vua Herode: "Thời kỳ ấy, vua Herode ra tay ngược đãi một số người trong Giáo Hội. Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gioan. Thấy việc đó làm vừa lòng người Do-thái, nhà vua lại cho bắt cả ông Phêrô nữa. Bấy giờ đang là tuần lễ Bánh Không Men. Bắt được rồi, nhà vua truyền tống ngục và giao cho bốn tốp lính canh gác, mỗi tốp gồm bốn người, định sau lễ Vượt Qua sẽ điệu ông ra cho dân chúng."

Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ: "Họ sẽ giết chủ chăn và đoàn chiên sẽ tan tác." Phêrô, Giacôbê, và Gioan được coi như những môn đệ thân tín nhất của Chúa Giêsu; giờ đây Giacôbê đã bị giết, Phêrô bị cầm tù. Vì thế, Giáo Hội không ngừng dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện khẩn thiết cho ông.

1.2/ Thiên sứ giải thoát Phêrô: Đức Kitô biết đau khổ do bắt bớ và tù đày cần thiết để tôi luyện niềm tin của các tông-đồ và để bành trướng đức tin; nên Ngài để cuộc bách hại xảy ra. Nhưng Ngài cũng biết Giáo Hội của Ngài cần sự lãnh đạo của Phêrô, nên Ngài sai một thiên sứ tới để giải thoát ông khỏi ngục tù, như Ngài sẽ làm tương tự với Phaolô sau này.

- Xiềng xích và lính canh trở nên vô hiệu trước quyền lực của Thiên Chúa: Trình thuật kể: "Trong đêm trước ngày bị vua Herode đem ra xử, ông Phêrô ngủ giữa hai người lính, và bị khoá vào hai cái xiềng. Trước cửa ngục lại có lính canh. Bỗng thiên sứ của Chúa đứng bên cạnh ông, và ánh sáng chói rực cả phòng giam. Thiên sứ đập vào cạnh sườn ông Phêrô, đánh thức ông và bảo: "Đứng dậy mau đi!" Xiềng xích liền tuột khỏi tay ông."

- Phêrô làm theo lệnh thiên sứ một cách vô thức: "Thiên sứ nói tiếp: "Thắt lưng lại và xỏ dép vào!" Ông làm như vậy. Rồi thiên sứ lại bảo ông: "Khoác áo choàng vào và đi theo tôi!" Ông liền theo ra, mà không biết việc thiên sứ làm đó có thật hay không, cứ tưởng là mình thấy một thị kiến. Qua vọng canh thứ nhất, rồi vọng canh thứ hai, thiên sứ và ông tới trước cửa sắt thông ra phố. Cửa tự động mở ra trước mặt hai người. Ra đến ngoài, đi hết một đường phố, thì bỗng nhiên thiên sứ bỏ ông mà đi." Tất cả những việc này xảy ra khi lính vẫn canh và cửa tù vẫn khóa.

- Phêrô ý thức mình đã được cứu thoát: "Lúc ấy ông Phêrô mới hoàn hồn và nói: "Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Herode, và khỏi mọi điều dân Do-thái mong muốn tôi phải chịu."" Khi Thiên Chúa muốn, Ngài vô hiệu hóa mọi quyền lực thế gian.

2/ Bài đọc II: Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính.

2.1/ Chiến đấu cho chính nghĩa: Giống như Chúa Giêsu khi sắp rời bỏ thế gian để về cùng Thiên Chúa, Ngài dành thời gian để kiểm điểm những gì Ngài đã làm, những gì sắp xảy đến, và vinh quang Ngài sẽ được hưởng trong tương lai; Phaolô cũng thế.

(1) Nhìn lại quá khứ: "Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin."

+ Cuộc thi đấu cao đẹp: Thế gian là một bãi chiến trường để Thiên Chúa thử luyện đức tin của con người. Nhìn lại quá khứ, Phaolô biết mình đã cố gắng hết sức vượt qua các gian khổ để chu toàn sứ vụ Đức Kitô đã trao phó cho ngài.

+ Đã chạy hết chặng đường: Cuộc đời con người có thể ví như một cuộc chạy Marathon, có nguồn gốc từ quốc gia Hy-lạp. Đây là một cuộc chạy đường dài rất gian khổ, đòi người chạy phải có sức khỏe dẻo dai để chịu đựng. Nhiều người ghi danh, không nhằm chạy nhanh để đạt đích trước, nhưng chỉ cần thử xem mình có thể dẻo dai để về tới đích hay không. Nhiều người không chịu nổi phải bỏ cuộc dọc đường.

+ Đã giữ vững niềm tin: Đây là điều tối quan trọng để lãnh phần thưởng từ Đức Kitô. Nếu ai chạy đến đích mà đánh mất niềm tin ở dọc đường, người ấy sẽ không được lãnh nhận phần thưởng từ Đức Kitô.

(2) Kiểm điểm hiện tại: "Tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi." Thánh Phaolô được Đức Kitô hiện ra cho biết trước: ông sẽ bị bắt ở Jerusalem để làm chứng cho Ngài; không những thế, ông sẽ còn làm chứng cho Đức Kitô tại Rôma nữa. Nhiều tín hữu khóc thương ngăn cản; nhưng ông vẫn quyết chí lên Jerusalem để chịu bắt bớ như Đức Kitô đã từng trải qua.

(3) Hy vọng tương lai: Con người chiến đấu là cho một mục đích. Giống như lực sĩ thắng giải được khoác vòng hoa chiến thắng, Phaolô biết rõ mình cũng sẽ được Đức Kitô đeo vòng hoa chiến thắng cho như vậy. Ngài nói: "Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy."Phaolô dùng kinh nghiệm cá nhân để động viên tinh thần các môn đệ: "Và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện." Nếu Timothy, Titô, hay bất cứ một tín hữu nào trung thành giao chiến tới cùng, họ cũng sẽ lãnh nhận phần thưởng của các chứng nhân từ Đức Kitô.

2.2/ Phaolô chiến thắng là nhờ sức mạnh của Thiên Chúa: Ông biết rõ con người yếu đuối của mình, nhất là qua biến cố ngã ngựa và bị mù trên đường đi Damascus; nhưng ông cũng biết sức mạnh của Thiên Chúa hoạt động để nâng đỡ các yếu đuối của ông. Ông xác tín niềm tin này nhiều lần, và trong trình thuật hôm nay: "Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng. Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử. Chúa sẽ còn cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời. "

3/ Phúc Âm: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?"

3.1/ Người môn đệ phải biết Thầy của mình là ai:

(1) Kiến thức về Đức Kitô: Khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Caesarea Philippi, Người hỏi các môn đệ rằng: "Người ta nói Con Người là ai?" Các ông thưa: "Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Elijah, có người lại cho là ông Jeremiah hay một trong các vị ngôn sứ." Vua Herode đã từng nghĩ Chúa Giêsu là Gioan Tẩy Giả sống lại từ cõi chết. Elijah là một tiên tri làm nhiều phép lạ như Chúa Giêsu; truyền thống tin ông sẽ trở lại trước thời Đấng Thiên Sai, vì ông chưa chết. Jeremiah là tiên tri rất khí khái dám nói và làm chứng cho sự thật, mà không lui bước trước bất cứ quyền lực nào của vua chúa. Tất cả các nhận định này chỉ nói lên một khía cạnh của Đức Kitô, nhưng chưa nói lên được căn tính của Ngài.

(2) Mối liên hệ của người môn đệ với Đức Kitô: Chúa Giêsu không chỉ bằng lòng với những gì các môn đệ biết về Ngài qua người khác; nhưng Ngài muốn các ông nghĩ sao về Ngài, nên Ngài hỏi các ông: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?" Ông Simon Phêrô, đại diện cho các tông đồ, tuyên xưng: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." Đây là câu trả lời mà Chúa Giêsu muốn nghe: Ngài chính là Đấng Thiên Sai mà các ngôn sứ đã nói tới; đồng thời, Ngài cũng là Người Con Một của Thiên Chúa hằng sống. Chỉ khi nghe được lời tuyên xưng này từ miệng các môn đệ, Chúa Giêsu mới hoàn thành sứ mệnh mặc khải của Ngài.

3.2/ Hội Thánh được xây dựng trên Tảng Đá là Phêrô: Đức Giêsu nói với ông Phêrô: "Này anh Simon, con ông Jonas, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời." Thánh Phaolô cắt nghĩa rõ ràng điều này hơn: Không ai tuyên xưng Đức Kitô là Thiên Chúa, mà không do Thánh Thần soi sáng. Thánh Thần được gởi tới cho các tông-đồ là do sự can thiệp của Chúa Giêsu với Chúa Cha.

Nhận ra niềm tin xác thực của Phêrô, Chúa Giêsu thành lập Giáo Hội khi Ngài nói với Phêrô: "Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi." Trong Kinh Thánh, khi Thiên Chúa đổi tên cho ai, Ngài tin tưởng và trao sứ vụ cho người ấy. Ví dụ, Abraham từ Abram, Phaolô từ Saul, và Phêrô từ Simon ... Chúa Giêsu muốn trao quyền điều khiển Giáo Hội vào tay Phêrô và các người kế vị ông. Tảng Đá đây không phải là con người yếu đuối của Phêrô với ba lần chối Thầy; nhưng là đức tin của ông vào Đức Kitô sau nhiều lần sa ngã và chịu gian khổ.

Đức tin của Giáo Hội được đặt trên niềm tin nền tảng của các tông-đồ. Đức tin này được ví như "đá," có nghĩa vững chắc và không thay đổi với thời gian. Nhiều người chỉ trích Giáo Hội cổ hủ, cứng nhắc, không chịu theo thời ... nhưng cũng chính vì điều này mà Giáo Hội được thiết lập. Nếu Giáo Hội cũng thay đổi để được con người chấp nhận, hòa giải nhượng bộ trước áp lực của ma quỉ và thế gian, Giáo Hội sẽ không tồn tại đến ngày hôm nay.

Chúa Giêsu trao chìa khóa Nước Trời để nói lên quyền cầm buộc và tháo cởi: "Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy." Công dụng của chìa khóa là để mở ra và đóng lại, cho phép vào và từ chối không cho vào. Giáo Hội dùng quyền này để tha thứ hay cầm buộc hối nhân nơi tòa cáo giải.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Đức Kitô cần cả Phêrô lẫn Phaolô. Ngài muốn hai ông hợp tác để củng cố, bảo vệ, và phát triển Giáo Hội. Chúng ta cũng phải biết cộng tác với nhau trong việc mở mang Nước Chúa.

- Để có thể làm việc cho Đức Kitô và bảo vệ Giáo Hội, chúng ta không chỉ cần biết về Đức Kitô, nhưng phải sống mối liên hệ với Ngài.

- Giáo Hội không phải chỉ là Đức Thánh Cha và hàng Giáo Phẩm; nhưng là tất cả các tín hữu ở khắp nơi. Tất cả đều có bổn phận trong việc mở mang Nước Thiên Chúa.

Thứ Năm Tuần 12 TN1

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

 

Thứ Năm Tuần 12 TN, Năm lẻ

 

Bài đọc: Gen 16:1-12, 15-16; Mt 7:21-29.

1/ Bài đọc I: 1 Bà Xa-rai, vợ ông Áp-ram, đã không sinh được cho ông một người con nào. Bà có một người nữ tỳ Ai-cập, tên là Ha-ga. 2 Bà Xa-rai nói với ông Áp-ram: "Ông coi: ĐỨC CHÚA đã không cho phép tôi sinh con. Vậy xin ông đi lại với nữ tỳ của tôi; may ra nhờ nó mà tôi sẽ có con." Ông Áp-ram nghe lời bà Xa-rai.

3 Mười năm sau khi ông Áp-ram lập nghiệp tại đất Ca-na-an, bà Xa-rai, vợ ông, đem nữ tỳ của bà là Ha-ga, người Ai-cập, hiến cho ông Áp-ram, chồng bà, để nàng làm vợ ông. 4 Ông đi lại với Ha-ga và nàng có thai. Khi thấy mình có thai, thì nàng coi khinh bà chủ.

5 Bà Xa-rai nói với ông Áp-ram: "Tôi bị sỉ nhục là tại ông đấy! Chính tôi đã đặt nữ tỳ của tôi vào lòng ông. Thế mà từ khi nó thấy mình có thai, nó coi khinh tôi. Xin ĐỨC CHÚA phân xử giữa ông và tôi." 6 Ông Áp-ram nói với bà Xa-rai: "Nữ tỳ của bà ở trong tay bà đấy; đối với nó, cái gì tốt cho bà thì bà cứ làm! " Bà Xa-rai hành hạ Ha-ga khiến nàng phải trốn bà.

7 Sứ thần của ĐỨC CHÚA gặp thấy nàng gần một suối nước trong sa mạc, suối ở trên đường đi Sua. 8 Người hỏi: "Ha-ga, nữ tỳ của Xa-rai, ngươi từ đâu đến và đi đâu? " Nàng đáp: "Con đang trốn bà Xa-rai, chủ con." 9 Sứ thần của ĐỨC CHÚA bảo nàng: "Cứ về với bà chủ ngươi, và chịu luỵ bà ấy." 10 Sứ thần của ĐỨC CHÚA nói với nàng: "Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi ra thật nhiều đến mức không thể đếm được vì quá đông."

11 Sứ thần của ĐỨC CHÚA nói với nàng: "Này đây ngươi đang có thai, sắp sinh hạ con trai và sẽ đặt tên là Ít-ma-ên, vì ĐỨC CHÚA đã nghe thấu nỗi khổ của ngươi. 12 Con người đó đúng là một con lừa hoang, nó giơ tay chống mọi người, mọi người giơ tay chống nó, nó sẽ luôn đối đầu với tất cả anh em nó."

15 Ha-ga sinh cho ông Áp-ram một con trai; ông đặt tên cho đứa con mà Ha-ga đã sinh cho ông là Ít-ma-ên. 16 Ông Áp-ram được tám mươi sáu tuổi khi Ha-ga sinh Ít-ma-ên cho ông.

2/ Phúc Âm: 21 "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.

22 Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? "

23 Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!

24 "Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá.

25 Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá.

26 Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát.

27 Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành".

28 Khi Đức Giê-su giảng dạy những điều ấy xong, dân chúng sửng sốt về lời giảng dạy của Người,

29 vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ.


 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Phải thực hành Lời Chúa.

Con người hay bội hứa, quên thề; Thiên Chúa luôn trung tín. Con người hay thay đổi; Thiên Chúa không bao giờ đổi thay. Con người nghĩ để sống sót, họ cần phải tiêu diệt đối phương. Thiên Chúa chứng minh, Ngài có quyền năng làm cho tất cả hiện hữu chung: Do-thái Giáo, Kitô Giáo, và Hồi Giáo, đều đã được Thiên Chúa chúc lành và có thể sống chung với nhau. Để Lời Chúa có thể sinh ích, con người không chỉ cần lắng nghe, mà còn phải thực hành Lời Chúa dạy. Nếu con người chỉ biết trên lý thuyết mà không chịu thực hành trong đời sống, Lời Chúa có ích chi cho con người đâu!

Các Bài Đọc hôm nay vạch ra cho chúng ta thấy sự khác biệt giữa Thiên Chúa và con người; giữa cách cư xử của Thiên Chúa và cách cư xử của con người. Trong Bài Đọc I, bà Sarai, khi thấy mình không được Đức Chúa cho sinh con, đã hiến người hầu, Hagar, cho Abram để ông có con nối giòng. Khi Hagar có con với Abram, nàng lại coi thường và khinh khi bà chủ. Bà Sarai tức giận và đối xử nhẫn tâm với Hagar đến nỗi nàng phải trốn đi; nhưng sứ thần Thiên Chúa đã hiện ra và loan báo cho nàng biết: Thiên Chúa cũng sẽ chúc lành cho giòng dõi của Ismael, con nàng. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu tuyên bố: Nước Trời chỉ dành cho ai nghe và giữ Lời Chúa.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Ta sẽ làm cho giòng dõi ngươi sinh sôi thật nhiều đến mức không thể đếm được.

 

1.1/ Con người hay thay đổi: Truyền thống Do-thái và hầu hết truyền thống Á-đông đều có thái độ coi thường người phụ nữ có chồng mà không sinh cho chồng được người con để nối dõi tông đường (I Sam 1:5-6). Trong trường hợp như thế, người vợ thường sẽ hy sinh để chồng ăn ở với vợ lẽ hay nàng hầu để có con nối dõi cho chồng.

(1) Phản ứng của bà Sarai: Trình thuật hôm nay liệt kê một trường hợp điển hình: "Bà Sarai, vợ ông Abram, đã không sinh được cho ông một người con nào. Bà có một người nữ tỳ Ai-cập, tên là Hagar. Bà Sarai nói với ông Abram: "Ông coi: Đức Chúa đã không cho phép tôi sinh con. Vậy xin ông đi lại với nữ tỳ của tôi; may ra nhờ nó mà tôi sẽ có con." Ông Abram nghe lời bà Sarai, ông ăn ở với nàng hầu, Hagar, và nàng đã mang thai. Bà Sarai tức giận với nàng hầu có thể vì hai lý do: (1) Khi ông Abram tỏ cử chỉ yêu thương với Hagar. Điều này có thể hiểu được vì không ai muốn san sẻ tình yêu vợ chồng cho người khác; và (2) Nàng Hagar có những cử chỉ khinh thường bà. Dù sao chăng nữa, bà Sarai cũng có lỗi, vì bà phải biết những chuyện này không thể không xảy ra.

(2) Phản ứng của nàng hầu Hagar: Phản ứng này có thể hiểu được, vì là phản ứng của đa số con người: khinh thường những người có chồng mà không có con. Hơn nữa, nàng đang ở địa vị của nữ tỳ, bỗng nhiên trở nên bà chủ và được Abram thương mến, vì làm cho ông có con nối dõi tông đường, nên nàng càng có thái độ khinh thường và xỉ nhục chủ mình. Nàng Hagar khôn nhưng không ngoan; nếu nàng biết nhận ra tình thương của ông Abram và bà chủ Sarai, và khiêm nhường đáp lại, nàng đã không bị Bà đuổi ra khỏi nhà.

(3) Phản ứng của ông Abram: Ông nhận ra sự quan tâm của vợ và thái độ khinh thường vợ mình của Hagar; nhưng ông bị kẹt vào thế ở giữa, bênh bên nào cũng không được. Khi nghe Bà Sarai than thở, ông Abram nói với bà Sarai: "Nữ tỳ của bà ở trong tay bà đấy; đối với nó, cái gì tốt cho bà thì bà cứ làm!" Thế là Bà Sarai hành hạ Hagar đến nỗi nàng phải trốn khỏi Bà.

1.2/ Lời hứa của Thiên Chúa luôn vững bền: Cách đối xử của Thiên Chúa hoàn toàn khác với cách đối xử của con người. Ngài có thể chúc lành cho cả bà Sarai lẫn nàng hầu Sarai, cho giòng dõi của Sarai và của Hagar. Vì thế, Thiên Chúa sai sứ thần của Ngài đến gặp Hagar, và khuyên nàng: "Cứ về với bà chủ ngươi, và chịu luỵ bà ấy... Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi ra thật nhiều đến mức không thể đếm được vì quá đông."

Lời hứa về giòng dõi của Hagar: Sứ thần của Đức Chúa nói với nàng: "Này đây ngươi đang có thai, sắp sinh hạ con trai và sẽ đặt tên là Ismael, vì Đức Chúa đã nghe thấu nỗi khổ của ngươi. Con người đó đúng là một con lừa hoang, nó giơ tay chống mọi người, mọi người giơ tay chống nó, nó sẽ luôn đối đầu với tất cả anh em nó." Lời hứa này cho chúng ta thấy cả Hồi Giáo và Do-thái Giáo đều nằm trong Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa: Ismael là tổ phụ của những người Hồi Giáo và cũng được Thiên Chúa chúc lành. Isaac, đứa con Thiên Chúa ban cho Abram sau này, là tổ phụ của những người Do-thái và được Thiên Chúa chúc lành qua tổ phụ Abram. Lời sấm của sứ thần vẫn đang ứng nghiệm: giòng dõi của tổ phụ Abraham (Do-thái, Hồi Giáo, và Kitô Giáo) chiếm quá nửa dân số trên địa cầu; và mối thù truyền kiếp giữa Do-thái và Hồi Giáo vẫn đang xảy ra.

2/ Phúc Âm: Chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.

2.1/ Nước Trời không dành cho những ai chỉ biết nói yêu mến Thiên Chúa: Chúa Giêsu tuyên bố rõ ràng tình yêu phải được biểu tỏ bằng việc làm: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! Lạy Chúa!" là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.'' Một người ngây thơ có thể tin vào những lời đường mật của người dẻo miệng lưỡi ca tụng; nhưng không ai có thể đánh lừa Thiên Chúa bằng những lời tán tụng ngoài miệng, vì Ngài thấu suốt mọi ý hướng của con người.

2.2/ Nước Trời chỉ dành cho những ai thực hành Lời Chúa dạy: Để dẫn chứng tầm quan trọng của việc thi hành Lời Chúa, Chúa Giêsu đưa ra một ví dụ mà mọi người đều hiểu.

(1) Xây nhà trên đá: "Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá.'' Nhà xây trên nền đá, tuy khó làm lúc đầu, nhưng sẽ chịu đựng được mọi thay đổi của thời tiết sau này.

(2) Xây nhà trên cát: ''Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành." Nhà xây trên cát rất dễ làm lúc đầu, nhưng không chịu đựng nổi những đe dọa của thời tiết; chỉ cần một cơn sóng gió nhỏ cũng đủ cuốn trôi nhà ấy.

Cuộc đời con người cũng thế: Nếu họ chịu xây dựng cuộc đời của họ trên nền tảng của Lời Chúa, tuy khó khăn lúc đầu, nhưng sẽ giúp họ đứng vững trước bất kỳ cơn phong ba bão táp nào của cuộc đời. Nhưng nếu họ không chịu xây dựng cuộc đời trên nền tảng Lời Chúa, họ sẽ bị cuốn hút, và không thể nào thắng vượt được những cơn lốc của thế gian, và bẫy giăng của ma quỉ.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta phải luôn biết lấy tình thương Thiên Chúa để đối xử với nhau trong mọi hoàn cảnh: khi thịnh vượng cũng như lúc nghèo khổ, khi khỏe mạnh cũng như lúc yếu đau, khi vinh quang cũng như lúc đau khổ; vì đó là lệnh truyền của Thiên Chúa.

- Tri hành đồng nhất. Lời nói phải đi đôi với việc làm. Nếu chúng ta không thực hành những gì Thiên Chúa dạy, lời khôn ngoan cách mấy cũng chẳng giúp được gì cho chúng ta; nhưng nếu chúng ta kiên nhẫn mang Lời Chúa ra áp dụng vào cuộc sống, Lời Chúa sẽ sinh rất nhiều lợi ích cho cuộc đời chúng ta. 


Thứ Sáu Lễ Thánh TâmC

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

 

Thứ Sáu Lễ Thánh Tâm, Năm C

 

Bài đọc: Eze 34:11-16; Rom 5:5-11; Lk 15:3-7.

1/ Bài đọc I: 11 Quả thật, ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán thế này: Đây, chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm.

12 Như mục tử kiểm điểm đàn vật của mình vào ngày nó ở giữa đàn chiên bị tản mác thế nào, thì Ta cũng sẽ kiểm điểm chiên của Ta như vậy. Ta sẽ kéo chúng ra khỏi mọi nơi chúng đã bị tản mác, vào ngày mây đen mù mịt.

13 Ta sẽ đem chúng ra khỏi các dân, tập hợp chúng lại từ các nước và đưa chúng vào đất của chúng. Ta sẽ chăn dắt chúng trên các núi Ít-ra-en, trong các thung lũng và tại mọi nơi trong xứ có thể ở được. 14 Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao Ít-ra-en. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong đồng cỏ mầu mỡ trên núi non Ít-ra-en. 15 Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng. 16 Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng.

2/ Bài đọc II: 5 Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.

6 Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta.

7 Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. 8 Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.

9 Phương chi bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.

10 Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy.

11 Nhưng không phải chỉ có thế, chúng ta còn có Thiên Chúa là niềm tự hào, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hoà giải chúng ta với Thiên Chúa.

3/ Phúc Âm: 3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này:

4 "Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?

5 Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai.

6 Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.”

7 Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.”


 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Tình yêu Thiên Chúa dành cho con người

 

Hình ảnh mục tử và đoàn chiên là một trong những biểu tượng tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu dùng hình ảnh này rất nhiều trong chương 10: Ngài vừa là Cửa chuồng chiên mà các người chăn chiên thật và các chiên phải ra vào, Ngài vừa là Mục Tử Tốt Lành vì Ngài biết tên và chăm sóc cho từng con một. Điểm đặc biệt chưa từng thấy là Người Mục Tử Tốt Lành này sẵn sàng hy sinh và hiến mạng mình để bảo vệ đoàn chiên, như Đức Kitô đã hiến mình để bảo vệ con người.

Các Bài Đọc trong ngày Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta nhận ra tình yêu Thiên Chúa dành cho mỗi người, để chúng ta biết cách đáp trả cho cân xứng. Trong bài đọc I, khi nhìn thấy đoàn chiên tan tác như không người chăn, Thiên Chúa quyết định chính Ngài thân hành đến để chăn chiên. Ngài sẽ chăm sóc từng con chiên một và đưa tất cả trở về một đoàn. Trong bài đọc II, thánh Phaolô nêu bật tình thương Thiên Chúa qua biến cố Ngài chết cho con người ngay khi họ còn là tội nhân, để hòa giải con người với Thiên Chúa và ban ơn cứu độ cho con người. Trong Phúc Âm, tình yêu Thiên Chúa dành cho con người không phải như một tập thể, nhưng từng cá nhân một. Thiên Chúa sẽ thân hành đi tìm từng con chiên lạc trở về và vui vẻ ăn mừng khi kiếm thấy từng con một.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Nỗi lo lắng của người Mục Tử khi thấy đoàn chiên tản mác khắp nơi

1.1/ Hoàn cảnh và số phận đoàn chiên trước khi Đấng Thiên Sai tới.

Ngồi kiểm điểm đoàn chiên Israel sau gần 2000 năm trong tay những nhà lãnh đạo Israel, Đức Chúa nhận ra những điều sau đây:

(1) Sự bất toàn của các người chăn chiên:

+ Các vua chúa và những nhà lãnh đạo của Israel không quan tâm đến số phận của đòan chiên. Thỉnh thoảng tìm được một vài những người chăn chiên tốt; nhưng hầu hết họ chỉ biết quan tâm đến nhu cầu của họ.

+ Các nhà lãnh đạo tinh thần không biết giáo dục chiên theo đường lối của Thiên Chúa. Hậu quả là chiên dễ chạy theo cám dỗ của thế gian.

+ Vua chúa dễ nghe theo lời cám dỗ của các bà vợ Dân Ngoại để chạy theo và bắt chiên thờ các thần ngoại bang. Vua chúa cũng truy tố và hành hạ các người chăn chiên thật của Thiên Chúa gởi đến.

(2) Nỗi đau khổ của các con chiên:

+ Vì không được giáo dục theo đường lối Thiên Chúa, chiên không còn nhận biết Thiên Chúa của họ.

+ Chiên bị lưu đày và tha phương cầu thực nơi đất khách quê người.

+ Chiên làm mồi ngon cho vua chúa, các thú dữ và trộm cướp.

1.2/ Kế hoạch thu thập các chiên về của Đức Chúa

(1) Chính Ta sẽ chăm sóc đoàn chiên Ta: Đã đến lúc phải có sự thay đổi, Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: “Đây, chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm.

Như mục tử kiểm điểm đàn vật của mình vào ngày nó ở giữa đàn chiên bị tản mác thế nào, thì Ta cũng sẽ kiểm điểm chiên của Ta như vậy. Ta sẽ kéo chúng ra khỏi mọi nơi chúng đã bị tản mác, vào ngày mây đen mù mịt... Ta sẽ đem chúng ra khỏi các dân, tập hợp chúng lại từ các nước và đưa chúng vào đất của chúng... Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao Israel. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong đồng cỏ mầu mỡ trên núi non Israel. Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ - sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng.”

(2) Ta sẽ chăm sóc từng con chiên một: Những người chăn chiên đi trước thường chủ trương nhắm vào đám đông, nhưng cách chăn chiên của Đức Chúa sẽ nhắm vào từng con một: “Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng.” Người Mục Tử Tốt Lành được tiên báo bởi ngôn sứ Ezekiel chính là Đức Kitô của Tân Ước.

2/ Bài đọc II: Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi.

2.1/ Đức Kitô chết cho chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân.

Điểm khác biệt giữa Đức Kitô với các người chăn chiên khác là Ngài thương tất cả chiên, chứ không chỉ những chiên khỏe mạnh, tốt lành. Thánh Phaolô đã có kinh nghiệm cá nhân về tình thương cùa Đức Kitô, nên Ngài xác tín: “Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.”

2.2/ Đức Kitô hòa giải con người với Thiên Chúa.

Khi con người phạm tội, họ không thể giao hòa với Thiên Chúa và trở nên công chính. Đó là lý do xuất hiện của Đức Kitô. Ngài sẵn sàng đổ máu để rửa sạch tội lỗi cho con người. Một khi đã được rửa sạch khỏi tội, Đức Kitô giao hòa con người với Thiên Chúa. Đó là lý do con người được trở nên công chính.

Đức Kitô không chỉ rửa sạch tội cho chúng ta, Ngài còn ban Thánh Thần chính là sự sống thần linh của Ngài cho con người. Nhờ sự sống thần linh này, chúng ta có thể sống xứng đáng như những người con của Thiên Chúa và càng ngày càng trở nên toàn hảo giống như Ngài.

3/ Phúc Âm: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.”

3.1/ Để 99 con chiên lại và đi tìm con chiên lạc: Đức Giêsu kể cho họ dụ ngôn này: "Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?”

(1) Phản ứng khởi đầu: Có rất nhiều lý do con người vịn vào để không đi tìm con chiên lạc:

+ Ai dại gì để 99 con chiên để đi tìm một con?

+ Nếu tôi đi tìm và bị thiệt mạng, ai chăm sóc 99 con chiên còn lại?

+ Có nghĩa gì một con chiên, tương lai còn nhiều những con chiên khác nẩy sinh trong đàn?

+ Nếu nhìn một cách thống kê, 99% thành công là một kết quả quá tốt đẹp rồi, tội gì tự dằn vặt mình vì con chiên lạc?

(2) Mục đích của Chúa Giêsu: Ngài muốn khán giả phải suy nghĩ trước khi đưa đến sự kiện mà họ không thể chối bỏ được.

+ Nếu Chúa Giêsu thay chữ “chiên” bằng “con,” người được hỏi sẽ phải cẩn thận trả lời hơn. Ví dụ: “Ai trong các ông có 10 người con mà một con bị bệnh tật hay thất lạc, lại không để 9 con còn lại mà ra sức chữa trị cho đứa con bị bệnh hay tìm đứa con thất lạc đó?” Theo cách trình bày của Lucas, đây là dụ ngôn thứ nhất trong 3 dụ ngôn liên tiếp, hai dụ ngôn kia là bà góa có 10 đồng bạc và dụ ngôn tuyệt vời “Người Cha Nhân Hậu hay Đứa Con Hoang Đàng” sau cùng.

+ Con nào cũng là con, “dạ đau con xót.” Bổn phận cha mẹ nhiều khi phải thương những đứa con bệnh tật và đau khổ hơn.

+ Tôi sẵn sàng đi tìm đứa con thất lạc, vì đó là máu mủ của tôi.

+ Chúa Giêsu muốn nói Thiên Chúa thương con người như thế: Ngài không bằng lòng với biết bao đứa con công chính trên trời, nhưng sẵn sàng lặn lội đi tìm những con chiên lạc, cho đến khi tìm được.

+ Thiên Chúa thương con người khi họ vẫn còn là tội nhân, vì họ đều là con của Ngài. Đức Kitô lo lắng cho người tội lỗi hơn và tìm mọi dịp để đưa họ trở lại. Ngài sai Thánh Thần khơi dậy lương tâm để họ biết nhận ra điều phải và trở lại. Khi họ trở lại, Ngài sẵn sàng tha thứ tất cả tội lỗi và phục quyền làm con cho tội nhân. Tất cả những điều này, chúng ta đều nhận ra trong dụ ngôn “Người Cha nhân hậu.”

3.2/ Niềm vui khi tìm thấy con chiên lạc: Chúa Giêsu nói tiếp: “Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.”

+ Như lòng cha mẹ vui dường nào khi con khỏi bệnh hay con hối hận trở về, Thiên Chúa cũng vui như thế khi con người tội lỗi ăn năn trở lại.

+ Mỗi đứa con hoang đàng là một gai nhọn đâm thâu trái tim Chúa. Chúng ta nỡ lòng nào để trái tim Cha chúng ta chảy máu mà không hồi tâm quay lại cho Người được cảm thấy niềm vui?

+ Nỗi đau của Cha cũng là nỗi đau của mọi người con, chúng ta cũng phải lên đường đi tìm và đưa về những người con của Cha, vì họ cũng là anh chị em của chúng ta.

+ Chúa Giêsu mở lòng và cung cấp tia hy vọng cho các kinh sư và biệt phái: “Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.”

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Ai là người mà chúng ta ký thác cuộc đời cho? Chúng ta có nhận Đức Kitô là Mục Tử Tốt Lành của đời mình không?

- Chúng ta cũng đang được trao trách nhiệm của người mục tử cho con cái hay cho giáo dân, chúng ta có biết noi gương Đức Kitô để yêu thương và chăm sóc cho từng người một trong số họ không?

- Chúng ta có khiêm nhường đủ để nhận ra chúng ta có thể là con chiên lạc mà Đức Kitô đang tìm kiếm không hay chúng ta kiêu hãnh nhận chúng ta là những con chiên tốt lành rồi.

- Trái tim của chúng ta có nhạy cảm và yêu thương như trái tim của Chúa Giêsu hay đã quá chai đá để đón nhận ơn Chúa và tha thứ cho những người đã xúc phạm đến chúng ta.

Thứ Tư Tuần 12 TN1

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

 

Thứ Tư Tuần 12 TN1, Năm Lẻ

Image result for christian

Bài đọc: Gen 15:1-12, 17-18; Mt 7:15-20.

1/ Bài đọc I: 1 Sau các việc đó, có lời Đức Chúa phán với ông Áp-ram trong một thị kiến rằng: "Hỡi Áp-ram, đừng sợ, Ta là khiên che thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn."

2 Ông Áp-ram thưa: "Lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, Chúa sẽ ban cho con cái gì? Con ra đi mà không con cái, và người thừa tự gia đình con là Ê-li-e-de, một người Đa-mát."

3 Ông Áp-ram thưa: "Chúa coi, Chúa không ban cho con một dòng dõi, và một gia nhân của con sẽ thừa kế con."

4 Và đây có lời Đức Chúa phán với ông rằng: "Kẻ đó sẽ không thừa kế ngươi, nhưng một kẻ do chính ngươi sinh ra mới thừa kế ngươi."

5 Rồi Người đưa ông ra ngoài và phán: "Hãy ngước mắt lên trời, và thử đếm các vì sao, xem có đếm nổi không." Người lại phán: "Dòng dõi ngươi sẽ như thế đó!"

6 Ông tin Đức Chúa, và vì thế, Đức Chúa kể ông là người công chính.

7 Người phán với ông: "Ta là Đức Chúa, Đấng đã đưa ngươi ra khỏi thành Ua của người Can-đê, để ban cho ngươi đất này làm sở hữu."

8 Ông thưa: "Lạy Đức Chúa, làm sao mà biết là con sẽ được đất này làm sở hữu?"

9 Người phán với ông: "Đi kiếm cho Ta một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con cừu đực ba tuổi, một chim gáy và một bồ câu non."

10 Ông kiếm cho Người tất cả những con vật ấy, xẻ đôi ra, và đặt nửa này đối diện với nửa kia; còn chim thì ông không xẻ.

11 Mãnh cầm sà xuống trên các con vật bị giết, nhưng ông Áp-ram đuổi chúng đi.

12 Lúc mặt trời gần lặn, thì một giấc ngủ mê ập xuống trên ông Áp-ram; một nỗi kinh hoàng, một bóng tối dày đặc bỗng ập xuống trên ông.

13 Người phán với ông: "Ngươi phải biết rằng: dòng dõi ngươi sẽ trú ngụ trong một đất không phải của chúng. Chúng sẽ làm tôi người ta và người ta sẽ hành hạ chúng bốn trăm năm.

14 Nhưng Ta sẽ xét xử dân tộc chúng phải làm tôi, và sau đó chúng sẽ ra đi với nhiều tài sản.

15 Còn ngươi sẽ về với cha ông ngươi bình an, và sẽ được chôn cất sau khi hưởng tuổi già hạnh phúc.

17 Khi mặt trời đã lặn và màn đêm bao phủ, thì bỗng có một lò nghi ngút khói và một ngọn đuốc cháy rực đi qua giữa các con vật đã bị xẻ đôi.

18 Hôm đó, Đức Chúa lập giao ước với ông Áp-ram như sau: "Ta ban cho dòng dõi ngươi đất này, từ sông Ai-cập đến Sông Cả, tức sông Êu-phơ-rát.”

2/ Phúc Âm: 15 "Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi.

16 Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ?

17 Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu.

18 Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt.

19 Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa.

20 Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai.


 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Hãy sống xứng đáng với danh hiệu mình mang.

Theo thuyết Chính Danh của Khổng Tử: làm vua phải biết lo cho dân được ấm no và bình an, làm dân phải biết tuân giữ các mệnh lệnh và chu toàn bổn phận của mình; làm cha phải biết thương yêu và giáo dục con cái nên người, làm con phải biết vâng lời và báo hiếu cha mẹ. Nếu mọi người trong nước và trong gia đình đều biết sống đúng như danh hiệu của mình, dân chúng sẽ an cư lạc nghiệp, gia đình sẽ yên vui hạnh phúc, và đất nước sẽ bình an.

Các bài đọc hôm nay muốn đưa ra những tấm gương để mọi người nhìn vào đó và nhận ra mình đã sống đúng với danh hiệu của mình chưa. Trong bài đọc I, Đức Chúa hứa sẽ ban cho Abram hai điều: một dòng dõi đông đảo như sao trên trời và một vùng đất Canaan trù phú. Ngài đã làm y như vậy. Phần Abram, ông đã tin những gì Đức Chúa hứa, cho dẫu ông chưa được thấy dấu hiệu của những gì Đức Chúa hứa. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đề phòng cho dân chúng đừng tin các ngôn sứ giả. Họ là những chó sói đội lốt người chăn chiên để rình chờ cắn xé chiên. Để giúp dân nhận ra những ngôn sứ giả, Chúa Giêsu khuyên dân chúng đừng đánh giá bằng bộ áo họ mặc; nhưng nhìn vào cuộc sống của họ, vì cây tốt không thể sinh quả xấu.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Ông tin Đức Chúa, và vì thế, Đức Chúa kể ông là người công chính.

 

1.1/ Đức Chúa hứa ban cho Abram một dòng dõi. Truyền thống Do-thái tin con cháu đầy đàn là một trong những phần thưởng Đức Chúa ban cho những ai biết kính sợ Ngài. Abram đã cao niên mà vẫn chưa có lấy một người con; nhưng trong một thị kiến, Đức Chúa hứa “phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn.” Ông Abram thưa lại: "Lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, Chúa sẽ ban cho con cái gì? Con ra đi mà không con cái, và người thừa tự gia đình con là Eliezer, một người Damas... Chúa không ban cho con một dòng dõi, và một gia nhân của con sẽ thừa kế con." Nhưng Đức Chúa phán với ông rằng: "Kẻ đó sẽ không thừa kế ngươi, nhưng một kẻ do chính ngươi sinh ra mới thừa kế ngươi." Rồi Người đưa ông ra ngoài và phán: "Hãy ngước mắt lên trời, và thử đếm các vì sao, xem có đếm nổi không." Người lại phán: "Dòng dõi ngươi sẽ như thế đó!"

Tuy chưa có lấy một người con trong khi tuổi đã già, Abram tin những gì Đức Chúa nói, và vì thế, ông được Đức Chúa kể là người công chính vì ông đã tin những gì Ngài phán. Chúng ta biết sau đó Đức Chúa đã ban cho Abram một người con thừa kế là Isaac, Isaac có hai con là Esau và Jacob, Jacob có tới 12 người con; và từ đó, dân tộc Israel được thành hình. Khi Đức Chúa hứa, Ngài không nói khi nào những điều ấy được thực hiện, bổn phận của Abram là phải tin những gì Ngài hứa dù chưa thấy.

 

1.2/ Đức Chúa hứa ban cho Abram Đất Hứa. Người lại phán với ông: "Ta là Đức Chúa, Đấng đã đưa ngươi ra khỏi thành Urs của người Chaldeans, để ban cho ngươi đất này làm sở hữu." Abram thưa: "Lạy Đức Chúa, làm sao mà biết là con sẽ được đất này làm sở hữu?" Người phán với ông: "Đi kiếm cho Ta một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con cừu đực ba tuổi, một chim gáy và một bồ câu non." Ông kiếm cho Người tất cả những con vật ấy, xẻ đôi ra, và đặt nửa này đối diện với nửa kia; còn chim thì ông không xẻ. Truyền thống Do-thái khi làm giao ước với ai thường có lễ vật kèm theo để bảo điểm lời hứa. Ý nghĩa của các con vật được xẻ đôi có lẽ muốn nói, nếu một bên xé bỏ giao ước thì cũng bị phân thân xác làm hai như thế.

Điều Đức Chúa cho Abram biết trước là sự kiện dòng dõi ông sẽ phải sống nô lệ cho người Ai-cập trong vòng 400 năm: “Ngươi phải biết rằng: dòng dõi ngươi sẽ trú ngụ trong một đất không phải của chúng. Chúng sẽ làm tôi người ta và người ta sẽ hành hạ chúng bốn trăm năm.

Nhưng Ta sẽ xét xử dân tộc chúng phải làm tôi, và sau đó chúng sẽ ra đi với nhiều tài sản. Còn ngươi sẽ về với cha ông ngươi bình an, và sẽ được chôn cất sau khi hưởng tuổi già hạnh phúc.” Sự kiện Abram thấy “một lò nghi ngút khói và một ngọn đuốc cháy rực đi qua giữa các con vật đã bị xẻ đôi” chứng minh Đức Chúa đã chứng nhận giao ước, và Ngài sẽ thực thi những gì Ngài đã hứa. Điều này cũng đã xảy ra khi ông Moses và Aaron thừa lệnh Đức Chúa đem dân tộc Israel ra khỏi Ai-cập, lang thang trong sa mạc 40 năm, và sau đó đinh cư trong vùng đất Đức Chúa đã hứa.

2/ Phúc Âm: Hãy coi chừng các ngôn sứ giả

 

2.1/ Ngôn sứ thật và ngôn sứ giả: Đời nào cũng có các ngôn sứ giả. Lịch sử Do-thái không thiếu những hạng người này như được ghi chép nhiều lần trong Sách ngôn sứ Jeremiah và Ezekiel. Thánh Phaolô cũng đề phòng môn đệ Timothy về hạng người này và gọi họ là “chó sói” như Chúa Giêsu gọi hôm nay: “Họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi.” Ngày nay, cũng đầy dẫy những linh mục giả lợi dụng chiếc áo để gieo những lạc thuyết sai lầm và tìm kiếm lợi nhuận. Làm sao để nhận ra các ngôn sứ giả? Trước tiên chúng ta phải biết một ngôn sứ thật.

(1) Ngôn sứ thật: Theo định nghĩa đúng, người ngôn sứ là người nói những gì Thiên Chúa muốn nói như một sấm ngôn hay một sứ điệp, chứ không nhải là người nói tiên tri những gì sẽ xảy ra, dầu đôi khi có thể như vậy. Ngôn sứ là cái miệng của Thiên Chúa dùng để nói những gì Ngài muốn nói với con người. Ngày nay, ngôn sứ thật phải biết Lời Chúa và giảng Kinh Thánh, chứ không phải giảng văn chương và nói chuyện chính trị. Ngôn sứ thật phải dạy dân biết Luật của Thiên Chúa và can đảm sửa sai khi cần thiết.

(2) Ngôn sứ giả: Họ không nói lời của Thiên Chúa, thay vào đó họ nói những gì họ muốn hay lời của người khác rồi đổ cho Thiên Chúa. Họ không dạy cho dân biết Kinh Thánh và Lề Luật của Thiên Chúa, nhiều khi cũng chẳng chịu học biết để dạy. Họ không dám sửa dạy dân chúng vì sợ mất lòng và bị ghét. Họ thích nói những gì dân chúng muốn như: khen ngợi nhiều, đừng bắt làm nhiều, nhất là đừng khui tội của dân chúng ra để lương tâm họ bị cắn rứt.

 

2.2/ Phương cách để nhận ra các ngôn sứ giả: Để giúp các tín hữu nhận ra những ngôn sứ giả, Chúa Giêsu dạy: Nhìn quả biết cây; cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Các tín hữu có thể nhìn cách sống của một người để biết ngôn sứ thật hay giả. Hai điều chúng ta có thể rút ra từ những lời dạy của Chúa Giêsu:

(1) Đừng nhìn bên ngoài mà đánh giá: Đừng đánh giá bởi bộ áo bên ngoài vì “Chiếc áo không làm nên thầy tu.” Chúa Giêsu mô tả: “Họ xúng xính trong bộ áo thụng! Họ đeo những hộp kinh lớn trên trán và các tua áo dài... Họ đọc kinh nhiều và dài để nuốt hết gia tài các bà góa.”

(2) Phải nhìn việc làm để đánh giá vì ý hướng bên trong của họ ta không thấy. Họ không quan tâm gì đến phần hồn của chiên; nhưng để ý đến những gì chiên mang lại cho họ. Họ như chó sói đội lốt chiên luôn rình chờ để cắn xé đoàn chiên. Một số các đặc điểm của các ngôn sứ giả:

+ Tham lợi nhuận vật chất: họ thích tiền và những của biếu xén.

+ Ham danh vọng: Họ lợi dụng chức vụ để xây dựng danh tiếng cho mình. Họ chỉ nhận lời làm những gì mang lại danh thơm tiếng tốt và chê bỏ những gì tầm thường, hèn kém.

+ Thích quyền hành: Họ mong những chức vụ cao trọng trong Giáo Hội để được ăn trên ngồi chốc, hay chán nản bi quan khi cấp cao không nhận ra tài năng quan trọng của họ.

+ Thỏa mãn xác thịt: Họ lạm dụng niềm tin của phụ nữ và con trẻ để thỏa mãn xác thịt. Đây là thứ tội mà Chúa Giêsu kinh tởm và buộc tội: “Thà buộc cối đá và quăng xuống biển còn hơn!”

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta hãy biết sống đúng với danh hiệu của mình. Nếu là ngôn sứ, hãy dạy dân biết Lời Chúa và chỉ đường cho dân đến với Ngài. Nếu là Kitô hữu, hãy vâng lời và làm những gì Thiên Chúa truyền dạy. Chúng ta đừng đánh giá người khác theo cái vỏ bên ngoài; nhưng hãy nhìn vào việc làm của họ.

Donation (credit card)

Thanks for your supporting.

Amount: