Thứ Tư Tuần 6 TN1
Trang Nhà

Thông Cáo

Lời Chúa Mỗi Ngày

Thứ Tư Tuần 6 TN1

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

 

Thứ Tư Tuần 6 TN1, Năm lẻ

 

Bài đọc: Gen 8:6-13, 20-22; Mk 8:22-26.

1/ Bài đọc I: Ông Noah kiên nhẫn chờ nước rút.

6 Hết bốn mươi ngày, ông Noah mở cửa sổ ông đã làm trên tàu,

7 và ông thả con quạ ra. Nó bay ra, lượn đi lượn lại cho đến khi nước khô trên mặt đất.

8 Rồi từ trong tàu ông lại thả con bồ câu, để xem nước đã giảm trên mặt đất chưa.

9 Nhưng con bồ câu không tìm được chỗ đậu chân, nên trở về tàu với ông, vì còn nước trên khắp mặt đất. Ông bèn giơ tay bắt lấy nó mà đưa vào trong tàu với ông.

10 Ông đợi thêm bảy ngày, rồi thả con bồ câu ra khỏi tàu một lần nữa.

11 Vào buổi chiều, con bồ câu trở về với ông, và kìa trong mỏ nó có một nhành lá olive tươi! Ông Noah biết là nước đã giảm trên mặt đất.

12 Ông lại đợi thêm bảy ngày, rồi thả con bồ câu ra, nhưng nó không trở về với ông nữa.

13 Năm sáu trăm lẻ một đời ông Noah, tháng giêng, ngày mồng một tháng ấy, nước đã khô ráo trên mặt đất. Ông Noah dỡ mái tàu ra và thấy mặt đất đã khô ráo.

20 Ông Noah dựng một bàn thờ để kính Đức Chúa. Ông đã lấy một số trong các gia súc thanh sạch và các loài chim thanh sạch mà dâng làm lễ toàn thiêu trên bàn thờ.

21 ĐỨC CHÚA ngửi mùi thơm ngon, và ĐỨC CHÚA tự nhủ: "Ta sẽ không bao giờ nguyền rủa đất đai vì con người nữa. Lòng con người toan tính điều xấu từ khi còn trẻ, nhưng Ta sẽ không bao giờ còn sát hại mọi sinh vật như Ta đã làm!

22 Bao lâu đất này còn, thì mùa gieo mùa gặt, trời lạnh và trời nóng, tiết hạ và tiết đông, ban ngày và ban đêm, sẽ không ngừng đắp đổi."

2/ Phúc Âm: 22 Đức Giêsu và các môn đệ đến Bethsaida. Người ta dẫn một người mù đến và nài xin Đức Giêsu sờ vào anh ta.

23 Người cầm lấy tay anh mù, đưa ra khỏi làng, rồi nhổ nước miếng vào mắt anh, đặt tay trên anh và hỏi: "Anh có thấy gì không?"

24 Anh ngước mắt lên và thưa: "Tôi thấy người ta, trông họ như cây cối, họ đi đi lại lại."

25 Rồi Người lại đặt tay trên mắt anh, anh trông rõ và khỏi hẳn; anh thấy tỏ tường mọi sự.

26 Người cho anh về nhà và dặn: "Anh đừng có vào làng."


 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Cần kiên nhẫn trong mọi việc.

Con người thường có khuynh hướng làm việc gì là muốn phải nhìn thấy kết quả ngay; nếu không sẽ dễ dàng chán nản và bỏ cuộc. Nhưng “dục tốc bất đạt,” làm việc gì cũng cần có thời gian, vội vã quá sẽ không mang lại kết quả mong muốn. Hơn nữa, việc càng khó, thời gian chờ đợi càng lâu. Ví dụ, để có thể tốt nghiệp đại học, con người cần ít nhất 16 năm, qua những giai đọan: tiểu học, trung học đệ nhất cấp, đệ nhị cấp, và đại học. Mỗi giai đọan đều phải qua một kỳ thi để chứng tỏ khả năng để tiến tới giai đọan mới. Trong việc luyện tập các nhân đức cũng thế, con người phải kiên nhẫn với mình và với người khác; bắt đầu luyện tập bằng các việc nhỏ dễ làm, rồi tiến dần đến những nhân đức khó khăn hơn, trước khi có thể sống các nhân đức cách dễ dàng.

Các Bài Đọc hôm nay tập trung trong đề tài phải kiên nhẫn chờ đợi trong mọi sự. Trong Bài Đọc I, sau 40 ngày đêm Đức Chúa cho mưa liên tục trên mặt đất, ông Noah phải đợi cho nước rút xuống. Để thử xem nước đã rút hết chưa, ông Noah dùng chim quạ và chim bồ câu nhiều lần để thử. Khi thấy chim bồ câu bay đi không về nữa, ông mới dám mở cửa tàu, vì biết nước đã cạn. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu chữa người mù qua hai giai đọan. Lần đầu, anh mù chỉ thấy người ta đi đi lại lại như những cây cối. Lần thứ hai anh mới nhìn thấy tất cả rõ ràng.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Ông Noah kiên nhẫn chờ nước rút.

1.1/ Giai đọan nước rút của Lụt Hồng Thủy: Trình thuật không nói ông Noah chờ bao nhiêu ngày trước khi mở cửa sổ: có thể ông cho mở ngay, có thể chờ vài ngày. Nhưng ít nhất, ông phải chờ 14 ngày giữa 3 lần thả chim bồ câu. Dùng chim để liên lạc là khí cụ thông tin của người xưa. Trình thuật không cho lý do tại sao ông Noah dùng con quạ, có lẽ con quạ không đáng tin, nên Noah phải dùng chim bồ câu. Chim bồ câu được dùng nhiều trong việc mang thư của người xưa, vì nó rất rành đường đi lối về; một khi đã biết đường về nhà là không bao giờ lạc nữa, cho dù có thả đi bất cứ nơi nào trên mặt đất. Ông Noah dùng chim bồ câu để thử nước rút 3 lần:

(1) Lần thứ nhất: Sau khi thả con quạ, ông lại thả con bồ câu, để xem nước đã giảm trên mặt đất chưa. Nhưng con bồ câu không tìm được chỗ đậu, nên trở về tàu với ông, vì còn nước trên khắp mặt đất. Ông bèn giơ tay bắt lấy nó mà đưa vào trong tàu với ông.

(2) Lần thứ hai: Ông đợi thêm bảy ngày, rồi thả con bồ câu ra khỏi tàu một lần nữa. Vào buổi chiều, con bồ câu trở về với ông, và ông trong mỏ nó có một nhành lá ôliu tươi! Ông Noah biết là nước đã giảm trên mặt đất.

(3) Lần thứ ba: Ông lại đợi thêm bảy ngày, rồi thả con bồ câu ra, nhưng nó không trở về với ông nữa. Ông biết là nước đã cạn hẳn.

Ngày mồng một, tháng một, năm sáu trăm lẻ một đời ông Noah, là ngày nước đã khô ráo trên mặt đất. Ngày đầu năm này báo trước Biến Cố Xuất Hành, biến cố này cũng xảy ra vào ngày đầu năm (x/c Exo 12:40-42). Điều này nhấn mạnh cho con người biết sự tái tạo bắt nguồn từ Thiên Chúa, chính Ngài đã bắt đầu một kỷ nguyên mới cho con người.

1.2/ Giao ước mới giữa Thiên Chúa và Ông Noah: Theo trình thuật của J, Lụt Hồng Thủy kết thúc với biến cố con người được nối lại tình nghĩa với Thiên Chúa qua việc dâng lễ vật tòan thiêu.

(1) Phía con người: Ông Noah đại diện cho đám người còn sót lại sau Lụt Hồng Thủy. Ông dựng một bàn thờ để kính Đức Chúa. Ông đã lấy một số trong các gia súc thanh sạch và các loài chim thanh sạch mà dâng làm lễ toàn thiêu trên bàn thờ. Đây là lần đầu tiên nói tới việc dâng thú vật thanh sạch và lễ vật tòan thiêu cho Thiên Chúa.

(2) Phía Thiên Chúa: Đức Chúa ngửi mùi thơm ngon, và Đức Chúa tự nhủ: "Ta sẽ không bao giờ nguyền rủa đất đai vì con người nữa. Lòng con người toan tính điều xấu từ khi còn trẻ, nhưng Ta sẽ không bao giờ còn sát hại mọi sinh vật như Ta đã làm!" Sau Lụt Hồng Thủy, Thiên Chúa biết con người vẫn phạm tội, nhưng lòng nhân từ của Ngài sẽ tha thứ. Lòng thương xót của Thiên Chúa cũng được biểu lộ trong thiên nhiên, qua việc Ngài sẽ không đảo lộn các trật tự của thời gian và thời tiết nữa.

2/ Phúc Âm: Chúa chữa người mù qua hai giai đọan.

2.1/ Điểm đặc biệt của phép lạ: Phép lạ này chỉ được tường thuật bởi Marcô mà thôi. Trong các phép lạ Chúa Giêsu làm, rất ít khi Ngài dẫn bệnh nhân ra nơi khác như trình thuật hôm nay và trình thuật khi Chúa Chúa Giêsu chữa người điếc và ngọng. Tác-giả không cho biết lý do, nhưng có lẽ cho lợi ích của bệnh nhân. Người mù ở trong bóng tối lâu năm, nên rất nhạy cảm với ánh sáng. Đức Giêsu chữa anh qua hai giai đọan:

(1) Người cầm lấy tay anh mù, đưa ra khỏi làng, rồi nhổ nước miếng vào mắt anh, đặt tay trên anh và hỏi: "Anh có thấy gì không?" Anh ngước mắt lên và thưa: "Tôi thấy người ta, trông họ như cây cối, họ đi đi lại lại."

(2) Rồi Người lại đặt tay trên mắt anh, anh trông rõ và khỏi hẳn; anh thấy tỏ tường mọi sự.

Giống như những trình thuật khác trong Marcô, để bảo đảm “bí mật Đấng Thiên Sai,” Chúa Giêsu cho anh về nhà và dặn: "Anh đừng có vào làng."

2.2/ Hành trình đức tin trong việc nhận ra Thiên Chúa: Nếu so sánh phép lạ này với phép lạ Chúa chữa người mù từ lúc mới sinh trong Tin Mừng Gioan, chúng ta thấy có những điểm tương đồng và khác biệt: Điểm giống nhau là Chúa Giêsu lấy nước miếng trộn với đất và đem xức vào mắt người mù; điểm khác biệt là Chúa Giêsu lại đặt tay trên mắt anh trong Marcô và anh thấy rõ ràng; trong khi Chúa Giêsu sai anh mù đi rửa mắt ở Hồ Siloam trong Gioan, và sau khi rửa, anh được sáng.

Trình thuật Gioan nhấn mạnh đến sự khai mở niềm tin của người mù qua những giai đọan khác nhau. Trong mỗi giai đọan, anh tuyên xưng Chúa Giêsu bằng những tên khác nhau theo sự thật đầy đủ hơn: Lần thứ nhất khi được hỏi bởi hàng xóm ai đã chữa anh, anh tuyên xưng “Người tên là Giêsu.” Lần thứ hai, khi bị tra vấn bởi nhà cầm quyền, anh tuyên xưng: “Người là một tiên-tri.” Lần thứ ba, khi bị tra vấn bởi các kinh-sư, anh nói: “Người phải đến từ Thiên Chúa.” Lần cuối cùng, khi được hỏi bởi chính Chúa Giêsu, anh nhìn nhận: “Người là Đấng Thiên Sai.”

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

 

- Thời gian chờ đợi là kẻ thù của con người. Rất nhiều người đã chán nản bỏ cuộc vì phải chờ đợi quá lâu, nhưng như lời Chúa phán: “Ai bền vững đến cùng, kẻ ấy mới được cứu thóat.”

- Để có thể thành công, chúng ta đừng vội phải nhắm ngay đích điểm, nhưng biết chia thành những giai đọan với những đích nhỏ hơn. Người kiên nhẫn, tuy chậm, nhưng bò lâu ngày rồi cũng tới đích.

- Trong mối tương quan với Thiên Chúa, chúng ta cần phát triển mối liên hệ với Thiên Chúa mỗi ngày qua việc trung thành cầu nguyện và sống những gì Ngài dạy. Trong mối tương quan với tha nhân, chúng ta cũng cần thời gian để hiểu biết, chia sẻ, chấp nhận, và giúp cho nhau mỗi ngày một thăng tiến hơn.