Trang Nhà

Thông Cáo

Lời Chúa Mỗi Ngày

Thứ Hai Tuần 15 TN1

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

Thứ Hai Tuần 15 TN1, Năm lẻ

 

Bài đọc: Exo 1:1-14, 22; Mt 10:34-11:1.

1/ Bài đọc I: 1 Sau đây là tên những con cái Ít-ra-en đã đến Ai-cập với ông Gia-cóp, mỗi người đem theo gia đình mình: 2 Rưu-vên, Si-mê-ôn, Lê-vi và Giu-đa, 3 Ít-xa-kha, Dơ-vu-lun và Ben-gia-min,

4 Đan và Náp-ta-li, Gát và A-se. 5 Dòng giống ông Gia-cóp tính tất cả là bảy mươi người; ông Giu-se thì đang ở bên Ai-cập.

6 Rồi ông Giu-se qua đời, cũng như anh em ông và tất cả thế hệ đó.

7 Con cái Ít-ra-en sinh sôi nảy nở, nên đông đúc và ngày càng hùng mạnh: họ lan tràn khắp xứ.

8 Thời ấy có một vua mới lên trị vì nước Ai-cập, vua này không biết ông Giu-se.

9 Vua nói với dân mình: "Này đám dân con cái Ít-ra-en đông đúc và hùng mạnh hơn chúng ta.

10 Chúng ta hãy dùng những biện pháp khôn ngoan đối với dân đó, đừng để chúng nên đông đúc, kẻo khi có chiến tranh, chúng hùa với địch mà đánh lại chúng ta, rồi ra khỏi xứ."

11 Người ta bèn đặt lên đầu lên cổ họ những viên đốc công, để hành hạ họ bằng những việc khổ sai; họ phải xây cho Pha-ra-ô các thành làm kho lương thực là Pi-thôm và Ram-xết.

12 Nhưng chúng càng hành hạ họ, thì họ càng nên đông đúc và lan tràn, khiến chúng đâm ra sợ con cái Ít-ra-en. 13 Người Ai-cập cưỡng bách con cái Ít-ra-en lao động cực nhọc.

14 Chúng làm cho đời sống họ ra cay đắng vì phải lao động cực nhọc: phải trộn hồ làm gạch, phải làm đủ thứ công việc đồng áng; tóm lại, tất cả những việc lao động cực nhọc, chúng đều cưỡng bách họ làm. 22 Pha-ra-ô ra lệnh cho toàn dân của mình: "Mọi con trai Híp-ri sinh ra, hãy ném xuống sông Nin; mọi con gái thì để cho sống."

2/ Phúc Âm: 34 "Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo.

35 Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng.

36 Kẻ thù của mình chính là người nhà.

37 "Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.

38 Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy.

39 Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.

40 "Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.

41 "Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính.

42 "Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu." 1 Ra chỉ thị cho mười hai môn đệ xong, Đức Giê-su rời chỗ đó, đi dạy dỗ và rao giảng trong các thành thị trong miền.


GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Sợ sự thật làm con người chia rẽ.

Trong cuộc đời, đa số ai cũng muốn hơn người và điều khiển người khác; nên họ rất sợ khi người khác có địa vị và thành công hơn mình. Thay vì với tinh thần cầu tiến, họ nên tìm hiểu lý do tại sao người khác thành công để học hỏi; nhiều người lại dùng những mưu mô, thủ đoạn, và áp lực nhằm hạ bệ và tiêu diệt những người hơn mình.

Các Bài Đọc hôm nay dẫn chứng những trường hợp cụ thể tại sao con người bất hòa và chia rẽ. Trong Bài Đọc I, khi vua Ai-cập nhìn thấy con cái Israel gia tăng dân số, ông cảm thấy bị đe dọa. Thay vì nên khuyến khích người Ai-cập sinh sản nhiều cho thăng bằng cán cân dân số, ông lại tìm những thủ đoạn để tiêu diệt con cái Israel: ông bắt họ phải lao động cực khổ và ngay cả bằng việc giết các trẻ nam mới sinh của Israel. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ biết họ sẽ gặp chống đối ngay cả từ nơi gia đình của họ. Lý do là con người không dễ chấp nhận lối sống theo sự thật mà Đức Kitô đòi hỏi họ phải rao giảng.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

 

1/ Bài đọc I: Chia rẽ vì sợ chủng tộc khác hơn mình.

 

1.1/ Vua Ai-cập kỳ thị chủng tộc Do-thái: Xưa cũng như nay, các quốc gia mạnh luôn tìm cách để bách hại các quốc gia yếu thế hơn mình để bắt triều cống và làm tôi mọi cho họ. Trường hợp Sách Xuất Hành tường thuật hôm nay là một trường hợp điển hình.

(1) Giòng dõi Jacob lan tràn khắp xứ Ai-cập: Thiên Chúa truyền con người phải sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất (Gen 1:28). Người Do-thái sống theo lệnh truyền của Thiên Chúa, họ ăn ở với nhau và sinh sản con cái rất nhiều. Tổ phụ Jacob có tất cả 12 con. "Sau đây là tên những con cái Israel đã đến Ai-cập với ông Jacob, mỗi người đem theo gia đình mình: Reuben, Simeon, Levi và Judah, Issachar, Zebulun và Benjamin, Dan và Naphtali, Gad và Aser. Giòng giống ông Jacob tính tất cả là bảy mươi người; ông Giuse thì đang ở bên Ai-cập. Rồi ông Giuse qua đời, cũng như anh em ông và tất cả thế hệ đó. Con cái Israel sinh sôi nảy nở, nên đông đúc và ngày càng hùng mạnh: họ lan tràn khắp xứ."

(2) Nỗi lo sợ của vua Ai-cập: Giống như đa số con người thời đại, người Ai-cập muốn hạn chế sinh sản, nhưng lại đâm lo khi thấy người Do-thái sinh sản nhiều hơn mình. Trình thuật kể: "Thời ấy có một vua mới lên trị vì nước Ai-cập, vua này không biết ông Giuse. Vua nói với dân mình: "Này đám dân con cái Israel đông đúc và hùng mạnh hơn chúng ta. Chúng ta hãy dùng những biện pháp khôn ngoan đối với dân đó, đừng để chúng nên đông đúc, kẻo khi có chiến tranh, chúng hùa với địch mà đánh lại chúng ta, rồi ra khỏi xứ."" Vua Ai-cập cũng như phần đông các cha mẹ thời nay, họ vẫn nghĩ họ có những "biện pháp khôn ngoan" hơn Thiên Chúa: vừa muốn hạn chế sinh sản, vừa muốn an toàn và cai trị người khác.

 

1.2/ Các "biện pháp khôn ngoan" Vua Ai-cập dùng để hành hạ con cái Israel: Để làm giảm dân số Do-thái, vua Ai-cập dùng những thủ đoạn sau đây:

(1) Hành hạ thể xác: Vua ra lệnh "đặt lên đầu lên cổ họ những viên đốc công, để hành hạ họ bằng những việc khổ sai; bắt họ phải xây cho Pharao các thành làm kho lương thực là Pithom và Ramses. Chúng làm cho đời sống họ ra cay đắng vì phải lao động cực nhọc: phải trộn hồ làm gạch, phải làm đủ thứ công việc đồng áng; tóm lại, tất cả những việc lao động cực nhọc, chúng đều cưỡng bách họ làm." Nhưng chúng càng hành hạ họ, thì họ càng nên đông đúc và lan tràn, khiến chúng đâm ra sợ con cái Israel.

(2) Tước đoạt quyền sống: Thấy kế hoạch bắt làm việc khổ cực không làm giảm dân số của người Do-thái, vua Pharao ra lệnh cho toàn dân của mình: "Mọi con trai Do-thái sinh ra, hãy ném xuống sông Nile; mọi con gái thì để cho sống." Nhiều người phê bình Thiên Chúa tại sao bênh vực dân Do-thái đến độ tàn sát các con đầu lòng Ai-cập và nhận chìm quân đội của Ai-cập trong Biển Đỏ; nhưng họ đã bỏ qua tội lỗi bất công và tước đoạt quyền sống của các trẻ Do-thái bởi nhà vua và các đốc công Ai-cập.

2/ Phúc Âm: Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo.

Chúa Giêsu nói với các môn đệ: "Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà." Thoạt nghe những lời tuyên bố này, chúng ta không khỏi lấy làm lạ: Tại sao một Thiên Chúa không đem bình an đến cho con người; lại đến để đem gươm giáo và gây chia rẽ trong gia đình?

 

1.1/ Bình an thực sự: Để hiểu những điều Chúa Giêsu nói, chúng ta cần phân biệt hai thứ bình an:

+ Bình an của con người: Con người thường hiểu bình an là sự vắng mặt của chiến tranh hay tranh chấp bên ngoài. Ví dụ: khi quốc gia không có đánh nhau và gia đình không có cãi vã tranh giành. Thứ bình an này thường chỉ tạm bợ và chờ đợi để bùng nổ một cuộc chiến lớn hơn và khốc liệt hơn.

+ Bình an của Thiên Chúa: là bình an đến từ bên trong tâm hồn. Bình an này chỉ có được khi con người dám đương đầu với và sống theo sự thật. Chính Chúa Giêsu đã phân biệt hai thứ bình an, khi Ngài nói với các môn đệ: bình an của Thầy sẽ ban cho anh em không theo kiểu bình an của thế gian ban tặng. Chúng ta có thể cảm nhận được sự bình an của các môn đệ sau khi Chúa sống lại. Các ông đã nhận ra sự thật: Chúa là Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa gởi tới cho con người. Ngài đã trải qua đau khổ, đã chết, và đã sống lại. Nhận ra sự thật này làm cho các môn đệ bình an trong tâm hồn; để rồi các ông có thể đương đầu với những quyền lực của thế gian: roi vọt, bắt bớ, tù đày; mà vẫn không sợ hãi gì cả. Các ông có thể chấp nhận tất cả và vui lòng làm chứng cho Đức Kitô.

 

2.2 Phải sống đúng các mối liên hệ với Thiên Chúa, với tha nhân, và với thế giới.

+ Mối liên hệ với Thiên Chúa phải đặt trên mối liên hệ với tha nhân: "Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy." Khi nói những điều này, Thiên Chúa muốn con người phải đặt Thiên Chúa trên tất cả mọi người và mọi sự. Quyền lợi của Thiên Chúa phải đặt trên các quyền lợi cá nhân: "Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được."

+ Mối liên hệ với tha nhân phải đặt trên mối liên hệ vật chất: "Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy." Con người không thể giúp đỡ lại cho Thiên Chúa, vì Ngài có tất cả. Điều con người có thể làm là giúp đỡ tha nhân, những con cái của Thiên Chúa. "Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính... Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu."

 

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

 

- Chúng ta hãy có can đảm đương đầu với sự thật. Đừng dối trá, quanh co, hay dùng thủ đoạn để bôi lọ, bắt bớ, hay tiêu diệt những người dám nói và sống cho sự thật.

- Nếu chúng ta biết khiêm nhường chấp nhận sự thật Thiên Chúa dạy và thay đổi lối sống theo đường lối Ngài vạch sẵn, chúng ta sẽ bảo đảm được hạnh phúc và bình an cả đời này và đời sau. Nếu chúng ta cứ ngoan cố trong tư tưởng và đường lối của con người, chúng ta chắc chắn sẽ phải trả giá; vì chẳng có gì bí mật mà không bị phơi bày ra ánh sáng.